“Việc các đồng chí lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) được tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV không chỉ là niềm vinh dự cá nhân, mà còn thể hiện sự ghi nhận của Đảng đối với vai trò ngày càng quan trọng của KH,CN&ĐMST trong sự nghiệp phát triển đất nước”.
Chiều ngày 26/01/2026, tại buổi gặp mặt trang trọng, đầm ấm, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cùng các Thứ trưởng: Phạm Đức Long, Hoàng Minh và đại diện lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ KH&CN đã tặng hoa, chúc mừng đồng chí Vũ Hải Quân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ KH&CN; đồng chí Bùi Hoàng Phương, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ KH&CN.
Thứ trưởng Bộ KH&CN Bùi Hoàng Phương.
Phát biểu tại buổi gặp mặt, Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới Bộ trưởng, tập thể lãnh đạo Bộ cùng toàn thể cán bộ, công chức, viên chức và người lao động Bộ KH&CN đã luôn đồng hành, hỗ trợ trong suốt thời gian qua.
Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương khẳng định, việc được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV tín nhiệm, bầu làm Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm lớn lao đối với Thứ trưởng. Thứ trưởng cam kết sẽ tiếp tục nỗ lực, cùng tập thể lãnh đạo và toàn ngành thực hiện hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV đã đề ra.
Thứ trưởng Thường trực Bộ KH&CN Vũ Hải Quân.
Tại buổi gặp mặt, Thứ trưởng Thường trực Vũ Hải Quân chia sẻ, việc được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng là sự ghi nhận lớn lao, song cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về trách nhiệm và cống hiến.
Theo Thứ trưởng Thường trực Vũ Hải Quân, chính văn hóa đoàn kết, gắn bó và đồng hành của tập thể lãnh đạo Bộ KH&CN, cùng sự chung sức của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong toàn ngành sẽ là nền tảng quan trọng để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng chia sẻ niềm vui với các đồng chí Thứ trưởng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Chúc mừng và chia sẻ niềm vui lớn cùng các đồng chí Thứ trưởng vừa trúng cử, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, niềm tin và kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và xã hội dành cho ngành KH&CN vừa là vinh dự, vừa là áp lực lớn, song đó là áp lực tích cực để thúc đẩy ĐMST và hành động quyết liệt hơn.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, ngành KH&CN cần tiếp tục phát huy ý chí, khát vọng và sự đồng lòng để biến chủ trương thành hành động cụ thể, biến nhiệm vụ thành sản phẩm và biến kết quả công việc thành những giá trị có thể đo lường được.
Theo Bộ trưởng, khi thống nhất được tư duy và hành động trong toàn ngành, những nhiệm vụ khó cũng sẽ tìm ra cách làm phù hợp; khi mỗi đơn vị và mỗi cán bộ đều chủ động “làm nhanh, làm mạnh, làm đến cùng”, KH&CN sẽ thực sự tạo ra những khác biệt rõ ràng, đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long yêu cầu công đoàn ngành đổi mới vai trò, trở thành trung tâm phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ.
“Công đoàn ngành phải trở thành trung tâm phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, không chỉ là tổ chức phúc lợi”, Thứ trưởng Phạm Đức Long nhấn mạnh tại hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 của công đoàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam sáng 26/1.
Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Phạm Đức Long. Ảnh: Phan Hoàn
Theo ông, trong bối cảnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chính của mô hình tăng trưởng mới, công đoàn ngành phải gắn với nâng cao năng lực nghề nghiệp và sức cạnh tranh của người lao động.
Phân tích kỹ hơn, ông cho rằng người lao động mất năng lực nghề nghiệp còn nguy hiểm hơn cả mất việc làm. Mất việc có thể tìm việc khác, nhưng mất năng lực nghề nghiệp thì “vừa mất việc, vừa mất cơ hội tìm việc mới”. Vì vậy, công đoàn phải đồng hành với người lao động trong việc bảo vệ và nâng cao năng lực nghề nghiệp.
“Đây chính là điểm khác biệt, bản sắc riêng của Công đoàn Khoa học và Công nghệ”, ông nhấn mạnh về một trong bốn định hướng của năm 2026.
Định hướng tiếp theo là xây dựng công đoàn số và chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động. Theo Thứ trưởng, công đoàn có thể lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và hỗ trợ đoàn viên, người lao động trên môi trường số. Việc chăm lo, bảo vệ người lao động cũng cần mở rộng sang không gian số, nơi các công cụ như AI và trợ lý ảo có thể được sử dụng để tư vấn chính sách, pháp luật.
Ở định hướng thứ ba, Thứ trưởng yêu cầu công đoàn “trở nên quan trọng hơn” đối với tổ chức chuyên môn. Công đoàn phải thúc đẩy phong trào đổi mới sáng tạo, gắn thi đua với giải quyết các bài toán thực tiễn như tăng năng suất, doanh thu, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả công việc.
Cuối cùng, công đoàn cần xây dựng các công cụ đo lường giá trị hoạt động của mình. Mức độ tin cậy của đoàn viên, mức độ bảo vệ người lao động,… đều có thể được đo đếm và thực hiện trên môi trường số.
Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Công đoàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam, sáng 26/1. Ảnh: Trọng Đạt
Năm 2025, kết quả hoạt động của Công đoàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam được đánh giá tích cực. Theo Phó chủ tịch Phạm Quang Hưởng, tổ chức đã thực hiện tốt nhiệm vụ đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, đồng thời chăm lo tốt đời sống của đoàn viên, người lao động. Các phong trào thi đua lao động sáng tạo, nghiên cứu khoa học, cải tiến kỹ thuật và chuyển đổi số trong hoạt động công đoàn được đẩy mạnh. Nhiều sáng kiến, đề tài, giải pháp có giá trị thực tiễn cao được ứng dụng, qua đó khẳng định vai trò của đội ngũ trí thức, người lao động ngành khoa học và công nghệ.
Ông Huỳnh Thanh Xuân, Phó chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đánh giá Công đoàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã hoạt động hiệu quả và là một trong những đơn vị đi đầu trong ứng dụng công nghệ thông tin. Phong trào thi đua yêu nước, đặc biệt là phong trào “Lao động giỏi, lao động sáng tạo”, được tổ chức tốt, với trên 4.000 sáng kiến được công nhận, làm lợi khoảng 1.000 tỷ đồng.
Công đoàn Khoa học và Công nghệ Việt Nam có 53 công đoàn trực thuộc với 201 công đoàn cơ sở và 82.837 đoàn viên. Đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức lao động trong ngành phần lớn có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo cơ bản.
Theo Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương, dù chính sách đã mở, chưa có nhà khoa học trong nước nào chủ động nhận vai trò tổng công trình sư các đề án lớn.
Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ đã ban hành cơ chế, chính sách nhằm thu hút tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng cho các chương trình, đề án khoa học công nghệ trọng điểm, song kết quả “chưa như mong đợi”.
Thông tin được Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Phương nêu tại họp báo thường kỳ của Bộ Khoa học và Công nghệ, sáng 29/1. Theo ông, Bộ “rất mong muốn tìm những người như vậy nhưng đến nay chưa có ai”.
Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương tại họp báo thường kỳ tháng 1 của Bộ Khoa học và Công nghệ, sáng 29/1. Ảnh: Thùy Linh
Bên cạnh các yếu tố khách quan như cơ sở vật chất, hạ tầng cho khoa học và công nghệ chưa đầy đủ, cần nâng cấp, Thứ trưởng cho rằng còn nguyên nhân từ chính sự e ngại của các nhà khoa học trong nước.
Thời gian qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thiện hành lang pháp lý với nhiều quy định, chính sách mới, mục tiêu cốt lõi là “tin tưởng và trao quyền” cho đội ngũ trí thức, nhà khoa học. Các chính sách hướng tới bảo đảm quyền tự chủ học thuật, cho phép nhà khoa học trực tiếp tham gia khai thác, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, những quyền lợi trước đây chưa được bảo đảm đầy đủ. Tuy nhiên, theo Thứ trưởng, “cơ chế, chính sách thôi chưa đủ”. Thực tế cho thấy, dù chính sách mới đã ban hành, nhiều người vẫn chưa dám làm, do còn băn khoăn, e ngại.
Một nguyên nhân khác được Thứ trưởng nhắc đến là sự khác biệt trong cách tiếp cận chính sách giữa các tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước. Các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài thường nghiên cứu rất kỹ các quy định mới ngay từ giai đoạn dự thảo đến khi ban hành. Trong khi đó, dù luật, nghị định, thông tư đã có hiệu lực, nhiều doanh nghiệp, tổ chức và nhà khoa học trong nước lại chưa nắm rõ nội dung.
“Các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và nhà khoa học trong nước nên nghiên cứu, cập nhật các quy định mới”, Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương nói, đồng thời khuyên các nhà khoa học nên tin tưởng, “chủ động vượt qua vùng an toàn”.
Theo Phó vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và công nghệ Hoàng Anh Tú, “vùng an toàn” trong khoa học và công nghệ được hiểu là không gian mà ở đó rủi ro khoa học và công nghệ được phép tồn tại, nhưng rủi ro pháp lý, tài chính và trách nhiệm phải “tiệm cận về 0”. Chỉ khi đó, nhà khoa học mới yên tâm theo đuổi các nghiên cứu đột phá.
Phó vụ trưởng Khoa học kỹ thuật và công nghệ Hoàng Anh Tú. Ảnh: Thùy Linh
Từ góc độ quản lý, ông Tú cho rằng có hai điểm nghẽn về quản trị rủi ro trong nghiên cứu khoa học, đó là thể chế và vấn đề tâm lý của nhà khoa học.
Về thể chế, ông cho hay, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cùng các nghị định hướng dẫn đã quy định chi tiết về quản trị rủi ro trong nghiên cứu khoa học, từ khâu đề xuất nhiệm vụ, quá trình thực hiện đến đánh giá kết quả.
Trường hợp đề tài không đạt mục tiêu ban đầu, theo Nghị định 265, tổ chức chủ trì không phải hoàn trả kinh phí, bởi trong khoa học, mọi kết quả đều được ghi nhận, kể cả khi không như mong đợi. Chính sách mới cũng miễn trách nhiệm dân sự, kể cả trách nhiệm hình sự cho tổ chức chủ trì nếu thực hiện đúng quy định, đúng quy trình.
Đối với điểm nghẽn tâm lý, Bộ sẽ giải quyết bằng cách minh bạch, quản trị rủi ro liên tục, làm thí điểm và tập huấn, giải thích rõ các luật, nghị định. Bộ đã xây dựng nền tảng số quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ, trong đó toàn bộ quy trình từ đăng ký, triển khai, đánh giá đến nghiệm thu đều được thực hiện trên nền tảng số, bảo đảm công khai, minh bạch. Cơ quan quản lý cũng sẽ giám sát liên tục để định hướng, giúp đỡ nhà khoa học nhằm hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất.
Theo ông Tú, trong các chương trình công nghệ chiến lược, chương trình khoa học công nghệ trọng điểm, Bộ sẽ chọn một số nhiệm vụ có mức độ rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro mang tính khoa học, để làm điểm, cùng nhà khoa học bước ra khỏi vùng an toàn.
Nhà khoa học làm việc tại lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Ảnh: Trường Hà
Trước thực tế nhiều nhà khoa học còn e dè, Bộ Khoa học và Công nghệ đang thay đổi cách tiếp cận, từ chờ nhà khoa học đề xuất sang chủ động tìm kiếm và thúc đẩy.
Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương cho biết Bộ đã trao đổi với lãnh đạo tỉnh Điện Biên và các doanh nghiệp công nghệ để thí điểm mô hình sandbox, dù thẩm quyền đã được phân cấp cho địa phương. Ở một hướng khác, Bộ cũng tìm kiếm ý tưởng từ cộng đồng khoa học thông qua các cuộc thi. Những ý tưởng có tiềm năng nhưng chưa hoàn thiện sẽ được hỗ trợ, tài trợ để phát triển thành sản phẩm cuối cùng.
“Thay vì chờ đợi nhà khoa học bước khỏi vùng an toàn, Bộ sẽ kéo các nhà khoa học ra khỏi vùng an toàn”, Thứ trưởng chia sẻ.
Theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, Việt Nam đối mặt nguy cơ thiếu hụt đội ngũ chuyên gia đầu ngành và tổng công trình sư trong các lĩnh vực công nghệ mới như bán dẫn, AI, công nghệ sinh học…
Số liệu từ Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, Việt Nam có hơn 167.000 người hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D), song phần lớn, chiếm 84%, tập trung ở khu vực nhà nước. Số cán bộ nghiên cứu tương đương toàn thời gian (FTE – Full Time Equivalent) của Việt Nam là 72.991 người. Trung bình 7,6 người nghiên cứu FTE trên một vạn dân, đứng thứ tư khu vực, sau Singapore (69,2 người), Malaysia (23,6 người) và Thái Lan (12,1 người).
Chiều ngày 22/01/2026, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã công bố kết quả và thông qua danh sách các đồng chí trúng cử Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV gồm 200 đồng chí, trong đó có 180 đồng chí Ủy viên chính thức và 20 đồng chí Ủy viên dự khuyết.
Trong số các đồng chí trúng cử, Bộ Khoa học và Công nghệ vinh dự có hai đồng chí Thứ trưởng được tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Đó là:
Đồng chí Vũ Hải Quân, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ, trúng cử Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Đồng chí Bùi Hoàng Phương, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, trúng cử Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.
Đồng chí Vũ Hải Quân, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Thứ trưởng Thường trực Bộ Khoa học và Công nghệ (bên trái) và Đồng chí Bùi Hoàng Phương, Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.
Trong tổng số 180 đồng chí được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, khối các cơ quan Trung ương có 123 đồng chí, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm; khối địa phương có 57 đồng chí.
Việc hai đồng chí lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ được tín nhiệm bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thể hiện sự ghi nhận của Đảng đối với vai trò, vị trí và những đóng góp quan trọng của ngành khoa học và công nghệ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Đây cũng là niềm vinh dự, tự hào của toàn ngành khoa học và công nghệ, đồng thời đặt ra trách nhiệm lớn trong việc tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong nhiệm kỳ mới.
Đại hội Đảng XIV: Phiên thảo luận tại hội trường về các văn kiện Đại hội
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết cách tiếp cận của Việt Nam để tạo đột phá trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng.
Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, trình bày tham luận. (Ảnh: TTXVN)
Sáng 21/1, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thay mặt Đảng bộ Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng trình bày tham luận về vấn đề: “Một số giải pháp đột phá đưa khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST và CĐS) trở thành động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới, nhanh và bền vững trong kỷ nguyên vươn mình bằng tri thức và công nghệ số, trong đó, ĐMST là cơ chế trung tâm để chuyển tri thức và công nghệ số thành năng suất, giá trị gia tăng và tăng trưởng bền vững”.
Bộ 3 động lực trung tâm của mô hình tăng trưởng mới
Đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, từ thu nhập trung bình tới thu nhập cao, Việt Nam phải dựa vào KHCN, ĐMST và CĐS. Cả 3 động lực này đều được Đảng ta mở rộng nội hàm, tái định nghĩa theo cách tiếp cận mới, tạo ra không gian phát triển mở rộng hơn, khai phóng các nguồn lực mới để thúc đẩy tăng trưởng.
“Với 3 động lực này, chúng ta có thể tăng trưởng 2 con số”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập KHCN, ĐMST và CĐS quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính thúc đẩy phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia và nâng cao năng lực tự cường, tự chủ của đất nước.
Nghị quyết số 57-NQ/TW như một “nghị quyết khoán 10” về KHCN, ĐMST và CĐS với tinh thần: Quản lý theo mục tiêu, không quản cách làm; trao quyền tự chủ và trách nhiệm cho người làm; chấp nhận rủi ro, đánh giá dựa trên hiệu quả tổng thể; người làm được hưởng lợi từ thành quả lao động và sáng tạo.
Từ chỗ thiếu KHCN, ĐMST và CĐS, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết chúng ta sẽ tiến tới đủ, thừa, xuất khẩu và xuất khẩu lớn, giống như chúng ta đã làm được đối với nông nghiệp.
“Mỗi quốc gia có văn hóa riêng, có ngữ cảnh riêng, có trình độ phát triển và chế độ khác nhau. Tìm ra cách tiếp cận phù hợp để đột phá phát triển KHCN, ĐMST và CĐS là quan trọng hàng đầu”.
Xây dựng thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng cho biết cách tiếp cận của Việt Nam để tạo đột phá trong phát triển KHCN, ĐMST và CĐS là đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng.
Theo đó, xây dựng thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh; Tập trung vào nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống người dân.
Phát triển trong một hệ sinh thái đầy đủ và cân bằng, bao gồm thể chế, hạ tầng, nhân lực, nhà nước, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp (DN). Chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra. Đặt KHCN trong bối cảnh CĐS và ĐMST.
Bên cạnh đó là hướng vào giải quyết các bài toán lớn của đất nước như tăng trưởng 2 con số, năng suất, chất lượng, quản trị quốc gia, theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, tự chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược như là một cấu phần quan trọng của chủ quyền quốc gia.
Đi từ ứng dụng, sản phẩm, thị trường tới làm chủ công nghệ. Cho phép và khuyến khích ứng dụng cái mới trong thực tiễn, coi đây là con đường nhanh nhất và hiệu quả nhất để hình thành, hoàn thiện và phát triển các công nghệ mới.
Các đại biểu dự phiên thảo luận tại hội trường về các Văn kiện Đại hội.
Đưa đổi mới sáng tạo trở thành lối sống, phong cách sống của mọi người dân
Nói về tinh thần ĐMST trong toàn dân, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết cần đưa ĐMST trở thành lối sống, phong cách sống của mọi người dân, mọi tổ chức. Xây dựng văn hóa khuyến khích khám phá, khoan dung với thất bại.
Đó còn là tiêu chuẩn phải đi trước để dẫn dắt phát triển quốc gia; sở hữu trí tuệ phải được coi là tài sản có thể định giá, mua bán, chuyển giao và khai thác trên thị trường.
Sở hữu trí tuệ trở thành công cụ cạnh tranh chiến lược của doanh nghiệp và quốc gia. Một quốc gia phát triển là một quốc gia mà tài sản vô hình, tài sản trí tuệ chiếm tới 80% tổng tài sản.
Tiên phong đo lường tác động của KHCN, ĐMST và CĐS
Để KHCN, ĐMST, CĐS thực sự trở thành động lực trung tâm của tăng trưởng, việc đầu tiên cần làm là đo lường sự đóng góp của bộ 3 này tới tăng trưởng GDP.
Bộ KH&CN coi đây là việc quan trọng đầu tiên và đang xây dựng phương pháp đo, ở cả cấp quốc gia và cấp địa phương.
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên đặt mục tiêu đo lường tác động của KHCN, ĐMST và CĐS tới tăng trưởng GDP. Đo lường hiệu quả còn là giải pháp cơ bản để chống lãng phí.
Thứ tự ưu tiên: Chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và KHCN
Với thực tiễn Việt Nam, trong giai đoạn từ nay tới năm 2031, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết thứ tự ưu tiên nên là CĐS, ĐMST và KHCN.
Về CĐS, chuyển đổi, thay đổi cách thức vận hành là chính, chiếm 70%, còn 30% là công nghệ và cần làm ngay 100% vì có nền tảng số.
Đổi mới sáng tạo cần tập trung vào hỗ trợ đổi mới công nghệ, thử nghiệm các công nghệ mới cho các DN. Bộ KH&CN đang tham mưu Chính phủ chỉ đạo mỗi bộ ngành và địa phương phải có 1 trung tâm ĐMST.
Bộ Chính trị đã giao Chính phủ chỉ đạo Bộ KH&CN xây dựng Chiến lược về quốc gia khởi nghiệp sáng tạo, toàn dân khởi nghiệp, một người có thể lập và vận hành doanh nghiệp với sự trợ giúp của các nền tảng số quốc gia.
Đổi mới sáng tạo còn là đổi mới mô hình quản trị và kinh doanh dựa trên công nghệ, mang lại giá trị lớn.
Bộ trưởng nhấn mạnh: Thế giới đang có những làn sóng mới mà Việt Nam có thể tận dụng để tăng trưởng nhanh vì rất phù hợp với văn hóa, năng lực người Việt Nam. Và thể chế mới quyết định đối với ĐMST và phát triển.
Hoàn thiện cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu giữa Nhà nước và doanh nghiệp
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng chia sẻ về chi cho KHCN. Theo đó, chi cho KHCN, quan trọng là 1 đồng của Nhà nước phải kích hoạt được 3 – 4 đồng của DN. Khi đó, 2% ngân sách KHCN của Nhà nước sẽ thành 2% GDP của cả xã hội chi cho KHCN. Bộ KH&CN đang hoàn thiện cơ chế đồng tài trợ nghiên cứu giữa Nhà nước và DN.
Một cơ chế quan trọng khác được Bộ trưởng đề xuất để tăng tính hiệu quả của ngân sách KHCN là thay vì chi cho nghiên cứu, sẽ đặt hàng và mua kết quả nghiên cứu hoặc thưởng cho kết quả nghiên cứu có hiệu quả.
Để đảm bảo nuôi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học, bao gồm nghiên cứu khoa học cơ bản và khoa học xã hội, chúng ta sẽ chi cho đầu vào tri thức và chấp nhận rủi ở đầu ra, nhưng trước mắt ngân sách này khoảng 15 – 20% tổng ngân sách khoa học công nghệ.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh: Thay đổi tư duy, nhận thức, cách tiếp cận, cách làm luôn là yếu tố đầu tiên quyết định thành công của những chủ trương lớn, mục tiêu cao.
Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, với tầm nhìn chiến lược của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm và khát vọng hùng cường cháy bỏng của 100 triệu dân Việt Nam, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng bày tỏ tin tưởng vững chắc rằng: “KHCN, ĐMST và CĐS sẽ là bộ 3 động lực đưa Việt Nam bứt phá, thoát bẫy thu nhập trung bình và trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao”./.
Ba từ khóa của đổi mới sáng tạo Việt Nam trong giai đoạn tới là “toàn dân”, “hệ sinh thái” và “số”. Đổi mới sáng tạo chỉ thực sự trở thành phong trào khi được triển khai trên môi trường số, nơi sở hữu trí tuệ được phổ cập, giáo dục đại học được mở rộng và công nghệ đi sâu vào đời sống. Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Khối Đổi mới sáng tạo, ngày 29/12, tại Hà Nội.
Khối Đổi mới sáng tạo gồm 9 đơn vị (Vụ Đánh giá và Thẩm định công nghệ; Cục Sở hữu trí tuệ; Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ; Cục Đổi mới sáng tạo; Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia; Viện Sở hữu trí tuệ quốc gia; Viện Ứng dụng Công nghệ; Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông; Trường Cao đẳng Thông tin và Truyền thông). Đây là khối có quy mô lớn nhất trong Bộ, bao phủ đầy đủ 3 trụ cột then chốt: Đổi mới sáng tạo, sở hữu trí tuệ và đào tạo nguồn nhân lực. Cấu trúc này tạo nền tảng thuận lợi để triển khai đồng bộ các chính sách từ nghiên cứu, sáng tạo đến thương mại hóa và phát triển nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng phát biểu tại chỉ đạo tại Hội nghị.
Hoàn thiện thể chế – điểm sáng nổi bật của năm 2025
Báo cáo tại Hội nghị cho biết, năm 2025 là năm Khối Đổi mới sáng tạo ghi dấu ấn rõ nét trong công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách.
Các đơn vị trong Khối đã chủ trì, tham mưu trình Bộ Chính trị 2 đề án quan trọng; trình Quốc hội ban hành 2 luật; trình Chính phủ ban hành 4 nghị định; trình Bộ trưởng ban hành theo thẩm quyền 1 thông tư và nhiều văn bản quan trọng khác. Đồng thời, các đơn vị trong Khối cũng tích cực tham gia xây dựng Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo liên quan đến các nội dung thuộc phạm vi quản lý.
Hiện nay, các đơn vị đang tiếp tục hoàn thiện nhiều văn bản lớn có ý nghĩa nền tảng, trong đó có nghị định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia; các văn bản hướng dẫn thi hành các luật được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV; nghị quyết của Chính phủ về xây dựng Đề án quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo; quyết định sửa đổi, bổ sung Chiến lược sở hữu trí tuệ đến năm 2030.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng trao tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cho các tập thể có thành tích xuất sắc trong xây dựng luật.
Những con số phản ánh sức bật của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo
Năm 2025, Việt Nam tiếp tục cải thiện vị thế trong các bảng xếp hạng và chỉ số đổi mới sáng tạo quốc tế.
Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) xếp Việt Nam ở vị trí 44/139 quốc gia, đứng thứ 2 trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam xếp thứ 55/100 quốc gia, đứng thứ 5 trong ASEAN.
Cả nước hiện có 39 doanh nghiệp, tổ chức được chứng nhận hoạt động công nghệ cao; 962 doanh nghiệp khoa học và công nghệ; khoảng 4.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, duy trì hai kỳ lân công nghệ.
Trong lĩnh vực chuyển giao và đánh giá công nghệ, Khối đã cấp 29 giấy chứng nhận đăng ký chuyển giao công nghệ, vượt kế hoạch năm; thẩm định nhiều dự án quan trọng quốc gia và chỉ định các tổ chức giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng.
Lĩnh vực sở hữu trí tuệ tiếp tục ghi nhận khối lượng công việc lớn với hơn 163 nghìn đơn được tiếp nhận, tỷ lệ xử lý và cấp văn bằng bảo hộ đều vượt kế hoạch năm, cho thấy năng lực vận hành hệ thống ngày càng được nâng cao.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng chủ trì Hội nghị.
Đổi mới sáng tạo – trục trung tâm của mô hình phát triển mới
Phát biểu kết luận Hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đánh giá cao nỗ lực của toàn Khối trong một năm đặc biệt khi Bộ Thông tin và Truyền thông và Bộ Khoa học và Công nghệ được hợp nhất.
Theo Bộ trưởng, sự hợp nhất không chỉ là cộng gộp tổ chức, mà là quá trình tạo ra cộng hưởng, hình thành sứ mệnh mới với yêu cầu cao hơn. Lần đầu tiên, Bộ có đầy đủ 4 trụ cột “Khoa học – Công nghệ – Đổi mới sáng tạo – Chuyển đổi số”, trong đó đổi mới sáng tạo giữ vai trò trung tâm, kết nối tri thức khoa học – công nghệ với thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội.
Bộ trưởng nhấn mạnh, 3 từ khóa của đổi mới sáng tạo Việt Nam trong giai đoạn tới là “toàn dân”, “hệ sinh thái” và “số”. Theo đó, đổi mới sáng tạo chỉ thực sự trở thành phong trào khi được triển khai trên môi trường số, nơi sở hữu trí tuệ được phổ cập, giáo dục đại học được mở rộng và công nghệ đi sâu vào đời sống. Theo Bộ trưởng, trong 5–10 năm tới, đổi mới sáng tạo được kỳ vọng sẽ đóng góp lớn hơn khoa học – công nghệ vào tăng trưởng GDP, trở thành động lực quyết định cho sự phát triển của đất nước.
Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm sau khi kết thúc Hội nghị.
Đối với đổi mới sáng tạo, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng chỉ rõ yêu cầu chuyển từ hỗ trợ dự án sang kiến tạo thị trường, trong đó Nhà nước đóng vai trò khách hàng đầu tiên, tạo cầu cho sản phẩm và giải pháp mới. Chính sách cần được thiết kế theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh, tập trung vào công nghệ chiến lược và quản lý theo kết quả, tác động thực chất.
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, trọng tâm chuyển mạnh từ cấp văn bằng sang xây dựng thị trường tài sản trí tuệ, thúc đẩy thương mại hóa sáng chế, coi sở hữu trí tuệ là nguồn lực tăng trưởng.
Đối với đào tạo, các cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ cần chuyển từ đào tạo chuyên môn sang kiến tạo nhân lực và tri thức số quốc gia, gắn nghiên cứu với ứng dụng và chuyển giao công nghệ.
Công tác đánh giá, thẩm định công nghệ cũng được yêu cầu đổi mới theo hướng quản trị rủi ro để phát triển, xác định rõ công nghệ cần ưu tiên và loại bỏ các công nghệ gây lệ thuộc.
Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định, đổi mới sáng tạo quyết định sự phát triển của khoa học và công nghệ Việt Nam; sở hữu trí tuệ quyết định sự giàu có của quốc gia; còn đánh giá, thẩm định công nghệ quyết định lựa chọn con đường công nghệ cho Việt Nam. Để hiện thực hóa sứ mệnh đó, Bộ trưởng yêu cầu, mỗi cán bộ trong Khối cần nuôi dưỡng khát vọng lớn, vững chuyên môn, giữ kỷ luật, làm chủ trí tuệ nhân tạo và đẩy mạnh số hóa trong mọi hoạt động.
Tại Đề án “Đà Nẵng-Thành phố đổi mới sáng tạo”, TP. Đà Nẵng đặt chỉ tiêu đến năm 2030, thành phố có ít nhất 1 kỳ lân công nghệ được định giá 1 tỷ USD.
Thứ trưởng Bộ KH&CN Hoàng Minh tham quan triển lãm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại TP. Đà Nẵng. Ảnh: VGP.
Theo Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng, Đề án “Đà Nẵng-Thành phố đổi mới sáng tạo” vừa được phê duyệt nhằm cụ thể hóa mục tiêu đưa Đà Nẵng trở thành một trong những trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp mang tầm cỡ quốc tế vào năm 2030.
Đề án đặt mục tiêu cụ thể để năm 2030 như: Xây dựng các cơ chế chính sách đặc thù, vượt trội để hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, đổi mới sáng tạo; Phấn đấu vào nhóm 300 các hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo toàn cầu; phát triển ít nhất 600 dự án, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo;
Có ít nhất 1 kỳ lân công nghệ được định giá 1 tỷ USD; Vốn đầu tư vào doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, dự án khởi nghiệp sáng tạo tăng thêm khoảng từ 6-7 nghìn tỷ đồng (tương đương 300 triệu USD) so năm 2025; Kết nối ít nhất với 100 quỹ đầu tư mạo hiểm trong và ngoài nước…
Ngoài ra, còn có 1 số chỉ tiêu về phát triển công nghệ và tài sản trí tuệ; cơ sở hạ tầng, hệ thống đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực…
Các lĩnh vực ưu tiên gồm: Công nghệ thông tin và truyền thông; Công nghiệp công nghệ cao, công nghệ xanh; Công nghệ sinh học và y tế; Kinh tế tuần hoàn, kinh tế biển và dịch vụ logistics; Đô thị thông minh, du lịch thông minh; Công nghệ tài chính (fintech); Công nghệ chiến lược, công nghiệp sáng tạo; Khoa học dữ liệu, dữ liệu lớn và phát triển trí tuệ nhân tạo (AI).
Tổng kinh phí dự kiến hơn 7.295 tỷ đồng. Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng là cơ quan chủ trì Đề án, phối hợp thực hiện cùng các sở, đơn vị có liên quan.
Đề án cũng tạo động lực mới cho phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững của thành phố trong giai đoạn tới.
Thời gian qua, Đà Nẵng đã chủ động triển khai nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp hiệu quả nhằm xây dựng và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Đến nay, thành phố đang có 3 Trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; 12 vườn ươm; 3 không gian sáng chế; 8 không gian làm việc chung; 6 quỹ đầu tư khởi nghiệp thành lập trên địa bàn; 10 câu lạc bộ khởi nghiệp ở các trường đại học, cao đẳng; hơn 20 cơ sở, trường đại học tham gia tích cực vào hệ sinh thái, ước tính khoảng 200 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo./.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, việc hình thành và lan tỏa một hệ thống khái niệm mới của Bộ Khoa học và Công nghệ từng bước thay đổi căn bản cách tư duy về ngành và con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên số và tri thức.
Thông điệp được Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nêu tại Hội nghị Tổng kết công tác năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ, ngày 26/12.
Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Nguyễn Mạnh Hùng tại sự kiện tổng kết của một số đơn vị trong Bộ, tháng 12/2025. Ảnh: Lưu Quý
Năm 2025 là năm kết thúc một giai đoạn 5 năm. Đất nước bước sang một trang mới để hiện thực hóa khát vọng hùng cường.
Năm 2025 là 40 năm sau Đổi mới, Việt Nam từ một nước nghèo thành nước thu nhập trung bình cao.
Năm 2025 là 80 năm nước Việt Nam mới. Việt Nam giành độc lập, thống nhất đất nước, vượt qua bao vây cấm vận, xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo nên tự hào Việt Nam.
Năm 2025, một năm bằng mấy chục năm về đổi mới thể chế. Sau một năm, thể chế Việt Nam về cơ bản đã hiện đại tương đương các nước tiên tiến.
Năm 2025 là năm xoay trụ phát triển, thay đổi tư duy phát triển, kết thúc logic của mô hình phát triển cũ. Trước đây, chúng ta nghèo, thiếu vốn, thiếu công nghệ nên phải dựa vào vốn, đầu tư công, lao động giá rẻ, mở cửa thu hút FDI và xuất khẩu. Nhưng nay, các yếu tố đó đã bắt đầu chạm trần, nên phải dựa trên năng suất tổng hợp (TFP), hàm lượng công nghệ, khả năng tự chủ và sức bật của doanh nghiệp Việt Nam, tức là dựa trên khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Năm 2025 là năm bộ 3 trụ cột khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số về chung một nhà. Thực ra, đổi mới sáng tạo thì đến 2025 mới được chính thức hóa ở mức luật, chuyển đổi số cũng mới được chính thức hóa mức luật vào tháng 12/2025. Việc bộ 3 này được chính thức hóa ở tầm cao là Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị và các luật liên quan, rồi được đưa về một bộ quản lý, và tuyên bố của Đảng ta về phát triển đất nước từ nay sẽ chủ yếu dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, là tầm nhìn chiến lược. Nó thay đổi cả sứ mệnh và vận mệnh của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Bộ Thông tin và Truyền thông tên ban đầu đề xuất là Bộ Công nghệ Thông tin và Truyền thông, nhưng vì đã có Bộ Khoa học và Công nghệ, sợ đụng nhau nên bỏ đi chữ “công nghệ”. Nay 2 chữ công nghệ đã nhập về một nhà, trở thành bộ 3 KHCN, ĐMST và CĐS, động lực trung tâm để đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao, hùng cường thịnh vượng và hạnh phúc.
Một năm nhiều đổi thay như vậy sẽ rất khó chọn gì để nói trong một buổi tổng kết năm. Nhất là với vai Bộ trưởng.
Thay đổi bao giờ cũng bắt đầu từ nhận thức, nhận thức bắt đầu từ khái niệm. Ngành ta trong 5 năm qua có nhiều khái niệm mới thể hiện sự thay đổi căn bản của ngành. Khái niệm không chỉ là ngôn từ, mà là cách chúng ta nhìn thế giới, xác định vấn đề, và lựa chọn cách hành động.
Trong 5 năm qua, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Khoa học và Công nghệ – và nay là Bộ hợp nhất – đã hình thành và lan tỏa một hệ thống khái niệm mới, qua đó từng bước làm thay đổi căn bản cách chúng ta tư duy về ngành, về vai trò của Nhà nước, và về con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên số và tri thức.
Từ “hạ tầng viễn thông” đến “hạ tầng số” – mở rộng không gian phát triển
Nếu trước đây, khi nói đến hạ tầng, chúng ta chủ yếu nghĩ đến hạ tầng vật lý, hạ tầng viễn thông, thì trong 5 năm qua, khái niệm hạ tầng số đã xuất hiện và dần trở thành một trụ cột nhận thức mới.
Hạ tầng số không chỉ là mạng, mà bao gồm hạ tầng dữ liệu, hạ tầng điện toán đám mây, hạ tầng tri thức AI, hạ tầng định danh và tin cậy số.
Sự thay đổi này đã đưa ngành từ vai trò “bảo đảm kết nối” sang vai trò kiến tạo không gian phát triển số cho toàn xã hội và nền kinh tế.
Từ bưu chính truyền thống sang hạ tầng logistics quốc gia trên nền tảng số
Bưu chính không chỉ chuyển phát mà trở thành kết cấu hạ tầng logistics của nền kinh tế số, trở thành mạng lưới thông minh, kết nối vận tải, kho bãi, chuỗi cung ứng, thương mại điện tử, dữ liệu. Đây không chỉ là số hóa hoạt động mà là nâng tầm bưu chính thành hạ tầng chiến lược, bảo đảm dòng chảy vật chất bên cạnh dòng chảy dữ liệu, giảm chi phí và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Từ “ứng dụng CNTT” đến “nền tảng số” – thay đổi cách tạo giá trị
Một khái niệm có ý nghĩa đột phá khác là nền tảng số. Chúng ta không còn chỉ nói đến các hệ thống đơn lẻ, mà nói đến nền tảng dùng chung, kết nối nhiều chủ thể, tạo hiệu ứng lan tỏa và quy mô.
Khái niệm nền tảng số đã làm thay đổi cách các bộ quản lý, cách các doanh nghiệp phát triển sản phẩm, và cách xã hội khai thác công nghệ: từ “mỗi nơi một hệ thống” sang chia sẻ – kết nối – tái sử dụng – mở rộng.
Từ “nghiên cứu khoa học” sang “đổi mới sáng tạo” – thay đổi logic phát triển
Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, khái niệm đổi mới sáng tạo đã đánh dấu một bước chuyển quan trọng về tư duy.
Nếu trước đây, khoa học chủ yếu được nhìn nhận qua đề tài, công bố, kết quả nghiên cứu, thì đổi mới sáng tạo đặt trọng tâm vào khả năng tạo ra giá trị mới, giải quyết vấn đề thực tiễn và đóng góp cho tăng trưởng.
Đây là sự chuyển dịch từ tư duy “làm khoa học để có tri thức” sang làm khoa học để phát triển đất nước, gắn chặt hơn giữa nghiên cứu, công nghệ, thị trường và chính sách.
Đổi mới sáng tạo là để nối cái trên Trời với cái dưới Đất.
Từ quản lý đề tài sang tạo giá trị thúc đẩy tăng trưởng
Khoa học-công nghệ không chỉ để có kết quả nghiên cứu mà phải trở thành động lực tăng năng suất, năng lực cạnh tranh và tự chủ công nghệ. Các khái niệm mới là hạ tầng tri thức quốc gia, hệ sinh thái ĐMST quốc gia, chuỗi giá trị tri thức – công nghệ – thị trường, chủ quyền công nghệ, tự chủ công nghệ, công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, đặt hàng, khoán chi, mua kết quả, cơ chế quỹ, rủi ro và độ trễ trong nghiên cứu, sandbox công nghệ.
Từ “tin học hóa” sang “chuyển đổi số” – thay đổi mô hình vận hành
Khái niệm chuyển đổi số đã làm thay đổi cách chúng ta nhìn nhận việc ứng dụng công nghệ.
Chuyển đổi số không còn là đưa máy tính vào quy trình cũ, mà là tái thiết kế mô hình hoạt động, phương thức quản lý và cung cấp dịch vụ. Đây là sự chuyển từ “số hóa cái đang có” sang tạo ra cái mới trên nền tảng số.
Từ “chính phủ điện tử” sang “chính phủ số” – thay đổi vai trò của Nhà nước
Sự xuất hiện của khái niệm chính phủ số phản ánh một bước tiến sâu hơn trong nhận thức về quản trị nhà nước.
Chính phủ số không chỉ là số hóa thủ tục, mà là Nhà nước vận hành dựa trên dữ liệu, ra quyết định dựa trên bằng chứng, và phục vụ người dân một cách chủ động, cá thể hóa.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu mới đối với Bộ: từ cơ quan quản lý kỹ thuật, trở thành cơ quan kiến tạo thể chế và năng lực số quốc gia.
Từ “công nghiệp CNTT” sang “kinh tế số” – mở rộng vai trò của ngành
Khái niệm kinh tế số đã giúp chúng ta nhìn lại vị trí của ngành công nghiệp CNTT và truyền thông (ICT) trong bức tranh phát triển quốc gia.
Ngành ICT không còn chỉ là một ngành kinh tế độc lập, mà trở thành hạ tầng và động lực cho mọi ngành, mọi lĩnh vực, từ sản xuất, dịch vụ đến quản lý xã hội và đời sống người dân.
Từ quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, sở hữu trí tuệ và năng lượng nguyên tử sang kiến tạo phát triển
Sự chuyển dịch từ tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sang hạ tầng chất lượng quốc gia đánh dấu bước đổi mới tư duy quản lý, từ kiểm soát sang kiến tạo phát triển. Tiêu chuẩn để dẫn dắt phát triển, quy chuẩn để bảo vệ các ngưỡng an toàn tối thiểu.
Đổi mới sở hữu trí tuệ là chuyển từ bảo vệ quyền sang kiến tạo động lực và thị trường cho đổi mới sáng tạo, trở thành hạ tầng lưu thông tri thức.
Năng lượng nguyên tử đang được tiếp cận như một nền tảng công nghệ lõi và hạ tầng nghiên cứu quốc gia, gắn chặt với đổi mới sáng tạo và phát triển dài hạn, không còn là ngành năng lượng đặc thù, không chỉ là nhà máy điện quy mô lớn, mà là công nghệ mô-đun, tạo thành chuỗi giá trị công nghệ hạt nhân, trở thành hệ sinh thái công nghệ hạt nhân.
5 năm qua là quá trình hình thành một hệ quy chiếu phát triển mới cho Bộ và cho ngành, thông qua những khái niệm mới, cách tiếp cận mới và vai trò mới. Từ khái niệm mới đến mô hình phát triển mới.
Năm 2025, năm tổng kết giai đoạn này, không chỉ là mốc thời gian, mà là bước chuyển về chất trong nhận thức và tư duy phát triển.
Từ nay, nhiệm vụ của chúng ta không chỉ là nói đúng khái niệm, mà là biến các khái niệm đó thành năng lực thực tế, kết quả cụ thể và giá trị đo được cho đất nước.
Việc đưa Bộ phận Một cửa tập trung, hiện đại vào vận hành tại trụ sở Bộ KH&CN không chỉ là bước tiến trong cải cách thủ tục hành chính, mà còn cho thấy cách tiếp cận mới trong chuyển đổi số khu vực công.
Bộ KH&CN đã triển khai đồng bộ các giải pháp công nghệ thông tin, kết nối Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ với Cổng Dịch vụ công quốc gia và
các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Ảnh: TK
Ngày 19/12, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) chính thức khai trương Bộ phận Một cửa tập trung tại trụ sở Bộ, số 113 Trần Duy Hưng, Hà Nội. Đây là công trình chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đồng thời đánh dấu một bước đi quan trọng trong lộ trình cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số của Bộ KH&CN.
Việc đưa Bộ phận Một cửa vào hoạt động thể hiện rõ quyết tâm đổi mới phương thức quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng phục vụ tổ chức, doanh nghiệp và người dân trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thay cho mô hình tiếp nhận phân tán theo từng đơn vị chuyên môn, Bộ KH&CN lựa chọn mô hình “một cửa tập trung”, trong đó toàn bộ quy trình tiếp nhận và trả kết quả được thống nhất tại một đầu mối duy nhất.
Theo mô hình mới, các thủ tục hành chính được thiết kế lại theo hướng liền mạch, rõ trách nhiệm, giảm trung gian và hạn chế việc người dân, doanh nghiệp phải đi lại nhiều lần.
Hồ sơ được tiếp nhận, theo dõi và trả kết quả tại Bộ phận Một cửa, giúp rút ngắn thời gian xử lý, đơn giản hóa thao tác và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát tiến độ giải quyết.
Một điểm nhấn quan trọng của Bộ phận Một cửa tập trung là định hướng hiện đại hóa và số hóa toàn diện. Bộ KH&CN đã triển khai đồng bộ các giải pháp công nghệ thông tin, kết nối Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ với Cổng Dịch vụ công quốc gia và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Các quy trình nghiệp vụ được chuẩn hóa và công khai; mỗi hồ sơ đều được gắn mã định danh, quy định rõ thời hạn xử lý và trách nhiệm của từng khâu, giúp người dân và doanh nghiệp chủ động theo dõi trạng thái hồ sơ, đồng thời tăng tính minh bạch trong giải quyết thủ tục hành chính.
Tại khu vực tiếp nhận, hệ thống kiosk tự phục vụ được bố trí để hỗ trợ tra cứu thủ tục, kiểm tra thành phần hồ sơ, số hóa hồ sơ giấy, nộp hồ sơ trực tuyến và theo dõi tình trạng xử lý.
Với những trường hợp chưa quen thao tác số hoặc có hồ sơ phức tạp, khu vực hỗ trợ trực tiếp và tư vấn chuyên sâu sẽ hướng dẫn từng bước, bảo đảm mọi đối tượng đều có thể tiếp cận dịch vụ công thuận lợi.
Cách tiếp cận này cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt từ mô hình “cán bộ làm thay” sang mô hình “người dân, doanh nghiệp chủ động thực hiện”, trong đó cơ quan nhà nước đóng vai trò hướng dẫn, hỗ trợ và kiểm soát quy trình.
Đây cũng là bước đi quan trọng nhằm hình thành thói quen sử dụng dịch vụ công trực tuyến, đồng thời bảo đảm không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình chuyển đổi số.
Phát biểu tại lễ khai trương, ông Hà Minh Hiệp, Chánh Văn phòng Bộ KH&CN cho biết, đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, thể hiện quyết tâm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số trong hoạt động quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ.
Theo ông Hà Minh Hiệp, điểm khác biệt của Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của Bộ KH&CN là việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong toàn bộ quy trình tiếp nhận, xử lý và theo dõi hồ sơ.
Bộ phận Một cửa được xác định không chỉ là nơi tiếp nhận hồ sơ, mà là “điểm chạm số” giữa Bộ KH&CN với người dân và doanh nghiệp.
Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của Bộ được kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia và hệ thống của các đơn vị trực thuộc, tạo nền tảng liên thông dữ liệu, đồng bộ thông tin.
Các kiosk điện tử giúp người dân, doanh nghiệp chủ động tra cứu, nộp hồ sơ và theo dõi tiến độ giải quyết thủ tục hành chính một cách nhanh chóng, thuận tiện và minh bạch.
Trong giai đoạn hiện nay, mô hình được triển khai theo hướng kết hợp giữa phục vụ trực tiếp tại điểm, phục vụ trực tuyến có hỗ trợ tại điểm và hệ thống trực tuyến hoàn toàn.
Cách tiếp cận này vừa đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, vừa phù hợp với mức độ sẵn sàng về công nghệ của từng nhóm đối tượng.
Bộ phận Một cửa được xác định không chỉ là nơi tiếp nhận hồ sơ, mà là “điểm chạm số” giữa Bộ KH&CN với người dân và doanh nghiệp.
Chất lượng vận hành của Bộ phận Một cửa trở thành thước đo trực tiếp phản ánh mức độ cải cách hành chính, mức độ chuyển đổi số và uy tín của Bộ trong thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước.
Bộ phận Một cửa tập trung được vận hành trên cơ sở phối hợp giữa các đơn vị chuyên môn thuộc Bộ KH&CN và Tổng công ty Bưu điện Việt Nam.
Bưu điện Việt Nam tham gia hỗ trợ tiếp nhận, hướng dẫn, số hóa hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính, góp phần bảo đảm quy trình vận hành thông suốt, thống nhất và nâng cao tính chuyên nghiệp trong phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo không còn là lựa chọn, mà đã trở thành con đường tất yếu để Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng. Tại Techfest Việt Nam 2025, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh vai trò trung tâm của người dân, doanh nghiệp trong đổi mới sáng tạo, khẳng định Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, đồng hành và thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển nhanh, bền vững.
Đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực thực chất
Phát biểu tại sự kiện, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, Techfest Việt Nam là một sự kiện quan trọng, nơi gieo mầm ý tưởng, hội tụ trí tuệ và lan tỏa lợi ích cho cộng đồng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Đây là năm thứ 11 chương trình được tổ chức và là lần thứ năm ông trực tiếp tham dự, qua đó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp. Thông điệp xuyên suốt được truyền tải là người dân và doanh nghiệp giữ vai trò chủ thể, còn Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, đồng hành và thúc đẩy.
Theo Thủ tướng, đổi mới sáng tạo không chỉ dừng lại ở khẩu hiệu mà phải xuất phát từ mệnh lệnh của trái tim, trở thành động lực thực chất cho phát triển. Lịch sử đã chứng minh sức sáng tạo của con người là không có điểm dừng, góp phần nâng cao năng suất lao động, không chỉ thay đổi cách sống và làm việc, mà còn trở thành động lực then chốt của tăng trưởng, chứ không đơn thuần là một khát vọng.
Nhấn mạnh vai trò của con người trên hành trình chinh phục những tầm cao mới, Thủ tướng khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã viết nên câu chuyện thần kỳ, biến “cái không thể thành có thể”, từng bước phát triển vững chắc và bền bỉ.
Thực tiễn cho thấy, đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp đã giúp Việt Nam thoát khỏi đói nghèo, vừa bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, vừa vươn lên trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Cùng với đó, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đang là những trụ cột quan trọng giúp đất nước phát triển bền vững.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu tại Techfest Việt Nam 2025.
Trong bối cảnh có nhiều biến động, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì đà phát triển trên hầu hết lĩnh vực, thể hiện khả năng chống chịu tốt trước các tác động bên ngoài. Tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao hàng đầu thế giới, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, trong đó có GDP, đạt nhiều kết quả tích cực. Những thành tựu này có nhiều nguyên nhân, trong đó nổi bật là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự kiên định về chiến lược, đồng thời đổi mới sáng tạo kịp thời, phù hợp và hiệu quả. Các động lực truyền thống như đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu tiếp tục được phát huy, khai thác hiệu quả, trở thành chìa khóa mở ra cánh cửa phát triển cho doanh nghiệp.
Thủ tướng cho biết, đầu tư tiếp tục được xác định là ưu tiên hàng đầu, là động lực quan trọng để phát triển kinh tế nhanh và bền vững, đặc biệt trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết trên các lĩnh vực, xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ số là ưu tiên hàng đầu, đồng thời không ngừng làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống, khai thác hiệu quả các động lực tăng trưởng mới như kinh tế xanh, kinh tế số và kinh tế sáng tạo.
Thủ tướng khẳng định, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là xu thế tất yếu, mang tính khách quan trong quá trình phát triển nền kinh tế sâu rộng và hội nhập hiệu quả. Hiện nay, hạ tầng số của Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, với mạng 3G, 4G phủ sóng rộng khắp và từng bước triển khai 5G.
Các chương trình quốc gia mang tầm vóc quốc tế như Techfest ngày càng khẳng định uy tín, thu hút sự tham gia đông đảo của chuyên gia, nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, startup và các tổ chức trong nước, quốc tế, tạo nên một sân chơi cởi mở, hấp dẫn và giàu cơ hội hợp tác.
Thế hệ trẻ – động lực mới khởi nghiệp sáng tạo Việt Nam
Thủ tướng chỉ rõ, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực từ bậc phổ thông đến sau đại học, đồng thời phát triển các phòng thí nghiệm mở, tăng cường hợp tác chặt chẽ giữa Nhà nước – nhà trường – nhà khoa học – nhà đầu tư, nhằm sớm đưa các kết quả nghiên cứu vào ứng dụng thực tiễn. Cần chủ động đầu tư vào các mô hình mới, từng bước hình thành những hệ sinh thái đặc thù trong các lĩnh vực công nghệ và chiến lược, tích cực tham gia đầu tư, làm chủ và phát triển công nghệ. Thế hệ trẻ được kỳ vọng tiếp tục phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chấp nhận rủi ro, qua đó lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn xã hội.
Techfest Việt Nam dự kiến nâng tầm lên khu vực và quốc tế từ năm 2026, trở thành điểm hội tụ nguồn lực chuyên gia, thúc đẩy đàm phán, hợp tác và đầu tư, hướng tới xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia có năng lực công nghệ mạnh, đồng thời tạo điều kiện để startup Việt Nam tham gia thử nghiệm, mở rộng thị trường trên phạm vi toàn cầu.
Đây cũng là dịp nhìn lại những chuyển biến tích cực của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, từ giai đoạn khởi đầu đến việc định hình các chiến lược phát triển tiếp theo, qua đó tạo động lực mới cho chặng đường phát triển và hội nhập quốc tế.
Thế hệ trẻ được kỳ vọng tiếp tục nuôi dưỡng khát vọng, mạnh dạn thử nghiệm, dấn thân giải quyết những vấn đề lớn của quốc gia, dân tộc và thời đại, đồng thời tạo ra các công nghệ tiên phong “Made in Vietnam”, trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng cùng Lãnh đạo các Bộ, ngành tham quan các gian hàng tại Techfest 2025.
Đổi mới sáng tạo là con đường tất yếu để Việt Nam bứt phá
Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, dù hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ, song do xuất phát điểm chậm, khoảng cách so với khu vực và thế giới vẫn còn, chưa tương xứng với tiềm năng trí tuệ và năng lực của con người Việt Nam.
Theo Thủ tướng, Việt Nam cần có lời giải thỏa đáng cho nhiều bài toán lớn, trong đó có việc thúc đẩy gắn kết hiệu quả giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI, qua đó giúp doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, để sản phẩm Việt khẳng định giá trị và vươn xa hơn trên thị trường khu vực và quốc tế.
Một nhiệm vụ trọng tâm khác là đẩy nhanh thương mại hóa các kết quả nghiên cứu khoa học của đội ngũ nhà khoa học, viện trường Việt Nam, tham gia vào các xu thế phát triển công nghệ mới như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo. Trong bối cảnh chuỗi giá trị toàn cầu đang được định hình với sự tham gia của nhiều cường quốc và tập đoàn lớn Việt Nam sẽ đứng ở đâu trong chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu? Mục tiêu trọng tâm là gì? Ưu tiên chiến lược là phát triển công nghệ lõi, đào tạo chuyên sâu hay mở rộng hệ sinh thái?
Thủ tướng nhấn mạnh, đây là những câu hỏi lớn đòi hỏi nhà quản lý, nhà khoa học và viện trường cùng nhau suy nghĩ, lựa chọn hướng đi phù hợp với điều kiện và lợi thế của Việt Nam. Đồng thời, cần sớm hình thành các cơ sở dữ liệu lớn quốc gia, phát triển thị trường dữ liệu, thúc đẩy các sản phẩm trí tuệ nhân tạo, học máy do Việt Nam làm chủ.